LINH MỤC PHAN VĂN LỢI CHIA SẺ TÂM TÌNH VỚI LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ NHÂN MÙA QUỐC HẬN 30
THÁNG TƯ ĐEN...
 1


Tự do yêu mến thiết tha!
Mà sao tù ngục hết ra lại vào?
2

Anh Lý thân kính

Lời thơ của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện sao mà ứng vào Anh đúng thế! Cách đây 35 năm, trong lúc dân chúng Tây
Nguyên kinh hoàng bỏ chạy xuống vùng duyên hải, dân chúng miền Trung hớt hoảng tuốn vào miền Nam từ
những ngày đầu tháng 2 và 3-1975, rời bỏ cái nơi mà họ linh cảm sẽ là một nhà tù vĩ đại, thì Anh lại ngược
đường từ Sài gòn ra Huế, dẫu trắc trở giăng đầy và nguy hiểm rình rập. Chiều ngày 25-3-1975 Anh đã có mặt tại
thành phố Huế đang rơi dần vào tay cộng quân. Thấy Anh có tinh thần quả cảm như thế, rất cần thiết để sống
trong chế độ cộng sản, lại thêm trí thông minh bén nhạy, Đức Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền đã bổ
nhiệm Anh vào chức vụ thư ký Toà Giám mục, phụ tá cho ngài.

Nhưng đến ngày 7-9-1977 thì Anh đã bị bắt. Lý do là Anh đã phổ biến rộng rãi 2 bài phát biểu thời danh của Đức
Tổng, một vào ngày 15 và một vào ngày 22-04-1977. Trong hai bài đó, Đức Cha đã thẳng thắn tuyên bố “chưa
có tự do tôn giáo tại VN” và “người Công giáo bị xem như công dân hạng nhì”. Cộng sản đã lồng lộn lên, tuyên án
Anh 20 năm tù với tội danh “tuyên truyền chống chế độ XHCN” trong một tòa án nhân dân đặc trưng của chế độ,
nhưng đến ngày 24-12-1977 thì phải thả Anh ra, nhờ việc Việt Nam vừa được gia nhập Liên Hiệp Quốc, và sau
đó quản chế Anh tại Nhà Chung đến tháng 8-1978. Thế là Anh bắt đầu nếm mùi ngục tù và quản thúc của chế độ.

Sau đó cộng sản áp lực để Anh bị đổi tới Đốc Sơ cai quản giáo xứ. Tại đây, sống giữa nhân dân nhưng trong
vòng kềm tỏa, Anh thấm thía được nỗi đau của đồng bào, của tín đồ dưới chế độ mới, do đó Anh liên tục gởi tới
nhà cầm quyền 7 kháng thư, thường xuyên bắc loa trên tháp nhà thờ mở đài Chân lý châu Á, coi khinh các quy
định “xin phép” vô lý của bạo quyền cộng sản. Thế là ngày 18-5-1983, Anh bị bắt lần thứ hai rồi bị cái gọi là Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) xử phạt 10 năm tù về tội “phá rối an ninh trật tự và phá hoại khối đoàn kết
toàn dân”, một tội danh quái đản mà chỉ pháp chế cộng sản mới có. Anh trở thành chứng nhân trong ngục thất
tới ngày 31-7-1992 tại cái gọi là “Trại cải tạo” tỉnh Hà Nam. Tại đây Anh đã sống cùng thi sĩ Nguyễn Chí Thiện.
Hai tâm hồn hết sức tự do gặp nhau giữa 4 bức tường nhà tù!

Trở về Nhà Chung Huế, Anh lại tiếp tục bị quản chế. Cộng sản tưởng tù giam và quản chế đã làm Anh quy thuận
và ngoan ngoãn, từ nay sẽ sống “tốt đời đẹp đạo”. Đùng một cái, ngày 24-11-1994, lễ các Thánh tử đạo Việt
Nam, “Tuyên ngôn 10 điểm về thực trạng Giáo hội Công giáo tại Giáo phận Huế” được Anh công bố và phát tán
rộng rãi. Bài viết chứng minh toàn thể Giáo hội VN nói chung bị chế độ kềm kẹp, đàn áp. Muốn trói tay Anh, Cộng
sản lại áp lực khiến Anh bị đưa tới giáo xứ Nguyệt Biều ngày 30-7-1995, không phải để làm mục vụ nhưng để bị
quản chế: ở trong nhà xứ nhưng chẳng được làm lễ một mình cho giáo dân và giảng dạy họ.

Nhiều năm trôi qua trong âm thầm chuẩn bị, ngày 14-11-2000, Anh và giáo dân Nguyệt Biều đã căng lên biểu
ngữ “Chúng tôi cần Tự do Tôn giáo” rồi biểu ngữ “Tự do tôn giáo hay là chết!” vốn sẽ đi vào lịch sử như một hiệu
lệnh. Tiếp đó, từ 03-12-2000 đến 26-2-2001, tự lồng ngực của Anh, hai từ “tự do” tha thiết ấy đã trào tuôn thành
9 Lời Kêu gọi có tính cách toàn diện hơn, kêu gọi hàng Lãnh đạo lẫn tín đồ mọi Giáo hội đòi lại quyền tự do tôn
giáo đang bị tước đoạt (LKG 1-4), kêu gọi giáo chức và sinh viên học sinh tẩy chay chủ nghĩa và chế độ CS, hai
ngục tù ghê gớm (LKG 6), kêu gọi đồng bào quốc nội lẫn hải ngoại chung lòng đoàn kết, chung tay xây dựng một
tổ quốc không có xiềng xích độc tài (LKG 7), kêu gọi thế giới đừng dễ dàng cho chế độ CSVN áp bức tham gia
các công ước quốc tế (LKG 5), kêu gọi quốc hội bỏ điều 4 Hiến pháp là vòng kim cô, và kêu gọi đảng CS là tên
cai ngục hãy tự giải thể chính mình (LKG 8). Anh cũng đã kết hợp với nhiều chức sắc khác đạo ra “Lời Tuyên bố
của Đại diện các Tôn giáo tại Việt Nam ngày 27-12-2000”, với 5 đòi hỏi rất quyết liệt. Trước đó, ngày 25-1-2001,
Anh đã tung ra một chứng từ đầy cảm kích về cái chết của Đức TGM Nguyễn Kim Điền, vị lãnh đạo tinh thần đầu
tiên sau 75 đấu tranh và bị sát hại vì tự do và nhân phẩm.

Thế là CS lại làm áp lực để Anh bị chuyển về một giáo xứ xa hơn, giữa đồng trống trải, khó liên lạc điện thoại và
điện thư, lại chỉ có một đường độc đạo đi vào, tức giáo xứ An Truyền. Tại đây, từ ngày 05-02-2001 đến ngày 15-
05-2001 là hôm bị bắt, Anh đã viết Lời Chứng thứ 1 rồi Lời Chứng thứ 2 gởi Quốc hội Hoa Kỳ để trình bày thực
trạng mất nhân quyền dân chủ ở Việt Nam. Cũng chính tại An Truyền, ngày 26-2-2001, Ủy ban nhân dân tỉnh
Thừa Thiên đã ban hành quyết định quản chế Anh hai năm. Anh chỉ mỉm cười khinh bỉ, coi đó như tờ giấy lộn. Từ
ngày 27-2 trở đi, CS bắt đầu đàn áp Anh và giáo xứ. Thế là Anh nảy sinh một sáng kiến chưa từng có trong chế
độ: lập biên bản về các vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền CS địa phương (tất cả có 19 biên bản, được lập
từ ngày 11-3-2001 đến ngày 09-5-2001), để biến những tên đồ tể thành tội phạm. Trong các biên bản này, cụm
từ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” được Anh đổi thành “Thiếu độc lập - Mất tự do - Không hạnh phúc”!!!

Ngày 19-10-2001, Anh bị Tòa án nhân dân tỉnh xử phạt 15 năm tù về 2 “tội”: không chấp hành quyết định quản
chế hành chính và phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, một tội danh quái gở mà chỉ CS mới nghĩ ra và dám
ghép càn! Thế là Anh lại lên đường vào tù ngục, ở trại Ba Sao, Nam Hà cho đến hết tháng 01-2005. Tại đây, Anh
đã gặp nhiều chiến sĩ dân chủ khác như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn....
Tất cả đã giúp nhau hun đúc tinh thần tự do. Và hiện nay, ra khỏi tù, họ vẫn tiếp tục tinh thần đó.

Anh lại thi hành án phạt quản chế lần thứ sáu tại Nhà Chung. Và tại đây, như không ngơi nghỉ, kể từ cuối năm
2005, cùng với nhiều chiến hữu, Anh tái phát động cuộc đấu tranh. Lần này quy mô hơn, không chỉ cho tự do tôn
giáo mà còn cho tự do dân sự, không chỉ cho quyền tín hữu mà cả quyền công dân, bởi lẽ đấy là hai mặt của
cùng một thực thể: nhân quyền. Là linh mục Công giáo đồng thời là con dân đất Việt, Anh thấy không thể chỉ đấu
tranh cho quyền lợi của Giáo hội mà còn cho quyền lợi của mọi đồng bào: tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do
đi lại, tự do lập hội, tự do bầu cử... là những thứ mà chính tôn giáo cũng phải cần đấy chứ!

Thế là lần lượt ra đời “Lời kêu gọi bầu cử Quốc hội đa đảng” ngày 17-10-2005, “Lời Kêu gọi cho quyền thông tin
ngôn luận” ngày 20-02-2006, “Lời Kêu gọi cho quyền Công nhân” ngày 19-03-2006, “Lời Kêu gọi cho quyền
thành lập đảng phái” ngày 06-04-2006 mà ban đầu Anh cùng ký tên chung với nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền
rồi với hàng trăm nhà dân chủ quốc nội. Ngày 08-04-2006, Tuyên ngôn Dân chủ Tự do cho Việt Nam chào đời để
rồi đi vào lịch sử, hình thành nên Khối 8406 mà Anh là một trong những tác nhân chủ yếu và đại diện chính thức.
Một tuần sau (15-04-2006) , tờ báo độc lập đầu tiên trong chế độ CS xuất bản không giấy phép là bán nguyệt
san Tự do Ngôn luận mà Anh là thành viên ban Biên tập.

Ngày 20-06-2006, Khối 8406 đưa ra 10 Điều kiện cơ bản thiết yếu để cuộc Bầu cử Quốc hội 2007 được đa đảng,
tự do, dân chủ. Ngày 22-08-2006, Khối 8406 công bố Tiến trình Dân chủ hóa VN gồm 4 giai đoạn & 8 bước mà
nay đã thực hiện được phần cơ bản của 2 giai đoạn đầu (sử dụng quyền Tự do Ngôn luận làm nền tảng cho các
Nhân quyền khác; phục hoạt, thành lập và phát triển các Chính đảng Dân chủ phi Cộng sản).

Ngày 08-09-2006, Đảng Thăng Tiến Việt Nam -mà Anh cùng với nhiều bạn linh mục khác là cố vấn- công bố tự
thành lập tại Việt Nam, trực diện đấu tranh bất bạo động với đảng CSVN. Ngày 16-10-2006, Liên Minh Dân Chủ
Nhân Quyền Việt Nam –mà Anh cũng là một trong những cố vấn quan trọng- đã được hình thành, quy tụ các Lực
lượng Dân tộc đấu tranh vì Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cho Việt Nam trong vài ngoài nước. Ngày 25-11-2006,
do sáng kiến của Anh, Khối 8406 đã phát động “Ngày Dân chủ cho Việt Nam, Ngày Toàn Dân Mặc Áo Trắng mỗi
15 và mồng 01”.

Anh trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh quyết liệt, toàn diện, triệt để với mục tiêu hạ bệ thần tượng giả tạo
Hồ Chí Minh, giải thể chế độ cộng sản độc tài, bằng phương pháp hòa bình bất bạo động, khôi phục mọi tự do cơ
bản. Điều này đã gây phẫn nộ và hoảng hốt cho chế độ. Cuộc ra mắt liên đảng Lạc Hồng –mà Anh vẫn là cố vấn-
trong đêm giao thừa tết Đinh Hợi là giọt nước làm tràn ly giận dữ của CS, thế là chúng ra tay khử trừ Anh ngay
đêm hôm sau (18-02-2007) .

Chỉ hơn một tháng sau, ngày 30-3, qua một phiên tòa cũng quái đản như hôm 19-10-2001, nghĩa là không thân
nhân và đại diện giáo quyền hiện diện, không có biện hộ của luật sư và tự biện hộ của chính mình, cộng sản đã
khoác lên Anh và bốn chiến sĩ dân chủ những bản án bất công, nặng nề. Đặc biệt nhất là CS đã bịt miệng Anh
trước tòa, một hình ảnh đã gây chấn động toàn cầu, đánh thức hầu hết mọi lương tâm và mãi mãi đi vào lịch sử.
Trung tướng Trần Độ, nhà ly khai phản tỉnh từng nói: “Giết một con người thì dễ, nhưng người ấy có chết không
lại là một chuyện khác!” Nay cũng thế, bịt miệng một nhà đấu tranh như Anh thì dễ, nhưng có làm im tiếng của
Anh không lại là chuyện khác. Giờ đây, với sự xuất hiện trên hàng trăm, hàng ngàn tờ báo, đài truyền hình quốc
tế, với lượng xuất bản tới hàng triệu tấm rải khắp năm châu, bức hình “Bịt miệng” lịch sử ấy đã, đang và sẽ là một
tiếng nói vang rền thế giới, ngân nga trong lịch sử và rung động hàng triệu con tim. Nó trở thành lời tố cáo hùng
hồn cái chế độ vốn độc tài, dối gian và tàn ac nhưng vẫn ngoác miệng tự xưng là “dân chủ triệu lần” và “ưu việt
nhân đạo” !?!

Anh Lý thân kính, Anh đã trải qua những năm tháng đẹp đẽ nhất, trẻ trung nhất, năng động nhất của đời linh mục
không phải trong một xứ đạo yên bình, tha hồ tổ chức xây dựng, nhưng là ở trong tù ngục, với thân xác bất động,
sức khỏe hao mòn và tài năng bỏ phế. Nhưng đó chẳng phải là thân phận của cây nến tàn lụi, nhúm men trầm
lắng, hạt muối tan hòa để tỏa sáng, làm dậy và ướp mặn sao? Đó chẳng phải là thân phận của những chứng
nhân anh hùng, tù giam tử đạo, để trở thành hạt giống mọc lên bao kitô hữu sao?

Hôm nay, ngày quốc hận 30-04-2010, toàn thể con dân đất Việt ở bất cứ phương trời nào đều nghẹn ngào xúc
động vì Quê hương vẫn mãi là một nhà tù lớn bao gồm nhiều nhà tù nhỏ mà một đang giam nhốt Anh. Hiện Anh
đang được tạm tha để chữa bệnh vì Anh đã bị ba lần tai biến mạch máo não đang khi ở trong tù và bị biệt giam.  
Bên ngoài nhà tù nhỏ, Đồng bào Quốc nội vẫn tiếp tục bị đọa đày, đặc biệt là các anh chị em khối 8406, các
thành viên Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam cũng như nhiều nhà dân chủ đối kháng, nhiều nhà trí thức
độc lập và nhiều nhà báo tự do.

Từ sau ngày được tạm tha 15-03-2010, Anh đã có các buổi tiếp chuyện với bà Phó Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam -
Virginia Palmer và bà Đại Sứ Canada tại Việt Nam - Deanna Horton. Qua đó Anh đã kêu gọi ủng hộ cho việc đòi
lại các nhân quyền và dân quyền trên quê hương đất nước cũng như cho việc tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội sẽ
diễn ra vào năm 2011.

Hôm nay cũng là kỷ niệm 36 năm Anh chịu chức linh mục, 30-4-1974, dấn thân vào cuộc đời hiến tế bản thân cho
chân lý, công bình, tình thương và tự do. Sao trùng hợp vậy? Kỷ niệm ngày Anh chịu chức cũng là kỷ niệm ngày
quốc hận 30 tháng Tư một năm sau đó, lúc Cộng sản tiến chiếm miền Nam! Phải chăng đấy là dấu tiên báo Anh
sẽ bước vào thân phận tù đày bách hại và thực sự Anh đã luôn sẵn sàng chấp nhận như thế, để góp phần rửa
tan mối hận cho cả quốc gia dân tộc.


Thân chào Anh trong tình huynh đệ linh mục.
Người bạn tranh đấu của Anh:
Linh Muc Phêrô Phan Văn Lợi
30-04-2010

Bản dịch Anh ngữ và biên tập của
Nhà xuất bản Allies for Freedom
Jean Libby, Chủ biên
Palo Alto, California
Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ

Loạt ấn phẩm Nhân quyền tại Việt Nam
Trần Trung Ngọc, Biên tập Việt ngữ


1. Ngày quốc hận 30 tháng Tư nhắc nhớ ngày Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam 30-04-1975, bất chấp hiệp định
hòa bình ký kết tại Paris vào tháng Giêng 1973 và việc chính phủ miền Nam Việt Nam đầu hàng tại Sài Gòn. Tại Việt Nam ngày này
được gọi là ngày Chiến Thắng và được tổ chức ăn mừng theo luật pháp của nước CHXHCN Việt Nam. “Tháng Tư Đen” là mùa đau
buồn đối với cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.

2. Nguyễn Chí Thiện, Hoa Địa Ngục, “ Bà Kia Tuổi Sáu Mươi Rồi”, bản dịch Anh ngữ của Huỳnh Sanh Thông (Hội đồng Đông Nam Á
Học, Trung tâm Nghiên cứu các vấn đề Quốc tế và Khu vực của Đại Học Yale)